Ở mức 50 tấn, quyết định không còn nằm ở bản thân cầu trục mà ở kết cấu đỡ nó: dầm ray, cột và nền móng. Chúng tôi thường bắt đầu bằng tải trọng bánh xe và mặt cắt ray, để kỹ sư kết cấu xác nhận trước khi chốt cấu hình máy.
Với tải trọng này, công việc của chúng tôi bắt đầu từ con số: tải trọng bánh xe mỗi góc, mặt cắt ray và khoảng cách bánh — để anh/chị tính kết cấu trước khi đặt máy.
| Tải trọng | 50 tấn móc chính + móc phụ 10 tấn hoặc 16 tấn |
|---|---|
| Khẩu độ | 16,5 m – 31,5 m; lớn hơn theo thiết kế riêng |
| Chiều cao nâng | 12 m – 24 m |
| Chế độ làm việc | A5–A7 (FEM 1Bm–2m) tùy công đoạn |
| Xe con | Tời hở, luồn cáp đôi, tang móc chính và móc phụ |
| Tốc độ nâng | 0,5–6 m/phút vô cấp với biến tần |
| Tốc độ di chuyển | Cầu trục 30–60 m/phút; xe con 20–40 m/phút |
| An toàn | Giới hạn tải có hiển thị, phanh hai lớp, chống va, giới hạn hành trình |
| Dịch vụ | Duyệt bản vẽ, thử tải tại xưởng, giám sát lắp đặt, đào tạo |
Bảng dưới đây là dải thông số chúng tôi cung cấp thường xuyên. Báo giá của anh/chị ghi con số cụ thể cho công trình, và khi có chênh lệch thì báo giá là căn cứ.
Ba việc: xác nhận tải trọng bánh xe với kỹ sư kết cấu, chốt khẩu độ và chiều cao nâng, và quyết định phương án lắp đặt (nhà thầu địa phương hay giám sát của chúng tôi). Làm ba việc này sớm sẽ tránh được phần lớn phát sinh.
Thường 40–60 ngày tới cảng xếp hàng, cộng 1–2 tuần duyệt bản vẽ. Với cấu hình đặc biệt (gầu, nam châm, chế độ A7) có thể lâu hơn — chúng tôi xác nhận ngày cụ thể bằng văn bản trong báo giá.
Tải trọng, khẩu độ và chiều cao nâng là đủ để chúng tôi báo giá trong 24 giờ.
Loại cầu trục, tải trọng (tấn), khẩu độ (m) và chiều cao nâng thường đã đủ để báo giá.